Số Fibonacci và tỉ lệ
vàng Ф có thể quan sát thấy ở vạn vật trong vũ trụ, từ vi mô nhất cho tới vĩ mô
nhất, từ các nguyên tử cho tới các dải thiên hà, từ động vật tới thực vật và
khoáng vật.
Dãy số Fibonacci và Tỉ
lệ vàng (Ф)
Dãy số Fibonacci là dãy
số bắt đầu bởi số 0 và số 1, các số sau mỗi số bằng tổng của 2 số liền trước
nó. Các số đầu tiên của dãy Fibonacci là:
0, 1, 1, 2, 3, 5, 8,
13, 21, 34, 55, 89, 144, 233, 377, 610, 987, …
Nếu chúng ta lấy tỉ số
của 2 số liên tiếp trong dãy Fibonacci thì sẽ được dãy số sau:
1/1 = 1 2/1 = 2 3/2 =
1,5 5/3 = 1,666… 8/5 = 1,6 13/8 = 1,625 21/13 = 1,61538…
Đồ thị biểu diễn cho
dễ hình dung :
Tỉ số này sẽ tiến dần
đến một giá trị mà ta hay gọi là Tỉ lệ Thần thánh hay tỉ lệ vàng: Ф ≈
1,618
Một con số liên quan
chặt chẽ với Ф là 1/Ф ≈ 0,618. Nghịch đảo của Ф nhỏ hơn nó đúng 1 đơn
vị.
Số Fibonacci và Tỉ lệ
vàng Ф có thể quan sát thấy ở vạn vật trong vũ trụ, từ vi mô nhất cho tới vĩ mô
nhất, từ các nguyên tử cho tới các dải thiên hà, từ động vật tới thực vật và khoáng
vật.
Bởi thực vật sống xung
quanh con người rất nhiều, cho nên người ta dễ quan sát thấy Fibonacci ở cây cỏ
thực vật nhất.
1. Ф và những bông hoa
Ở rất nhiều loài cây,
số lượng cánh hoa là một số Fibonacci :
|
3 cánh
|
Hoa loa kèn, hoa
Iris
|
|
5 cánh
|
Hoa dâm bụt, hoa cẩm
chướng, hoa hồng dại, hoa phi yến, hoa sứ, hoa đào…
|
|
8 cánh
|
Phi yến
|
|
13 cánh
|
Cúc vạn thọ, cỏ lưỡi
chó, một số loài cúc
|
|
21 cánh
|
Cúc tây, rau diếp
xoăn
|
|
34, 55, 89 cánh
|
Một số loài Cúc, hoa
mã đề
|
Một số loài hoa có số
cánh hoa rất chính xác và không đổi, ví dụ như hoa sứ, nhưng các loài khác có
số cánh hoa thay đổi rất gần với những con số trên – và số cánh hoa trung bình
của mỗi loài là một số Fibonacci.
Ví dụ như dưới đây là
loài hoa passion nhìn từ trước và sau :

Nhìn từ trước: 2 lớp cánh hoa bọc lấy dãy nhị hoa xanh trắng (không rõ số lượng), ở giữa là 5 nhị màu xanh, trên cùng ở giữa là 3 lá noãn màu nâu đậm.
2. Ф và nhị hoa
Số Fibonacci còn xuất
hiện trong cách sắp xếp của nhị hoa. Trong ảnh dưới là phần nhị của một bông
hoa cúc (Echinacea purpura).
Các phần tử nằm trên
nhị hoa được sắp xếp nằm trên đồng thời vài hệ thống đường xoắn ốc, về phía
trái và phải. Ở phần rìa tấm ảnh, nếu đếm số đường xoắn phải hướng ra ngoài ta
sẽ được 55 đường xoắn ốc. Ở hệ thống kia ta đếm được 34 xoắn ốc. 34 và 55 là
hai con số liền nhau trong dãy Fibonacci.
Dưới đây là nhị hoa
hướng dương, với cách sắp xếp giống hệt như vậy :
Còn đây là một bông
hướng dương lớn hơn, với các hệ thống xoắn ốc gồm 55 và 89 đường. Cả 55 và 89
đều là 2 số liền nhau trong dãy Fibonacci :
Điều tương tự cũng xảy
ra ở nhị hoa nhiều loài hoa khác trong tự nhiên. Số đường xoắn ốc của các hệ
thống đường xoắn ốc khác nhau của mỗi bông hoa thường xuyên là những con số
thuộc dãy số Fibonacci (hoặc thuộc dãy họ Fibonacci).
3. Ф và những quả thông
Quả thông có những
đường xoắn ốc tuân theo dãy số Phibonacci khá rõ.



Quả thông này có 2 hệ đường xoắn ốc ngược chiều nhau, một hệ gồm 8 và hệ kia 13 đường. 8 và 13 là 2 số liên tiếp thuộc dãy Fibonacci
Một quả thông khác,
không chỉ nhỏ hơn mà còn có các hệ đường xoắn ốc khác. Nó có 1 hệ 5 đường và 1
hệ 8 đường xoắn ốc. 5 và 8 là 2 số liên tiếp thuộc dãy Fibonacci.
4. Ф và sự đâm chồi của
cây

Nhiều loài cây biểu
hiện dãy số Fibonacci trong số lượng các “điểm phát triển” (nút) mà nó có. Khi
một cây mọc cành non, thì cành đó phải lớn lên một thời gian, trước khi đủ khỏe
để bản thân nó có thể sinh cành non mới. Nếu mỗi tháng cây mọc cành mới tại các
nút ấy, thì chúng ta có hình vẽ minh họa như trên. Số lượng các nút mỗi thời
điểm luôn là một con số Fibonacci.
Một trong những loài
cây phát triển rất giống với hình trên là loài cây Achillea ptarmica.
5. Ф và sự mọc lá của cây
xanh
Nhiều loài cây cũng có
cách mọc lá tuân theo các số Fibonacci. Nếu chúng ta quan sát kỹ sẽ thấy lá cây
mọc trên cao thường xếp sao cho không che khuất lá mọc dưới. Điều đó có nghĩa
là mỗi lá đều được hưởng ánh sáng và nước mưa, cũng như nước mưa sẽ được hứng
và chảy xuống rễ đầy đủ nhất dọc theo lá, cành và thân cây.
Nếu từ một lá ngọn làm
khởi đầu, xoay quanh thân cây từ trên xuống dưới, lá sang lá, đếm số vòng xoay
đồng thời đếm số chiếc lá, cho đến khi gặp chiếc lá mọc đúng phía dưới lá khởi
đầu, thì các số Fibonacci xuất hiện.
Nếu chúng ta đếm xoay
theo hướng ngược lại, thì sẽ được một con số vòng xoay khác (ứng với cùng chừng
ấy lá).
Kỳ lạ là: Con số vòng
xoay theo 2 hướng, cùng với số lá cây mà chúng ta gặp khi xoay, tất cả sẽ
tạo thành 3 con số Fibonacci liên tiếp nhau!
Ví dụ:Trong ảnh cây dưới, lấy lá (x) làm khởi điểm,
ta có 3 vòng quay thuận chiều kim đồng hồ trước khi gặp lá (8) nằm đúng phía
dưới lá (x), hoặc là 5 vòng nếu quay theo ngược chiều kim đồng hồ. Vượt qua
tổng cộng 8 lá. 3,5,8 là 3 số liên tiếp trong dãy Fibonacci.

Các chiếc lá được đánh số khi quay vòng quanh thân từ trên xuống dưới, bắt đầu từ (x) rồi đến 1,2,3,… Kinh ngạc thay, mỗi chiếc lá liền kề cách nhau khoảng 222.5°, tức là chính xác 0,618 vòng tròn. 0,618 chính là 1/Ф
Chiếc lá (3) và (5) là những chiếc lá phía
dưới gần lá khởi điểm (x) nhất, rồi xuống tiếp nữa là lá (8) rồi (13).
|
Lá số
|
Số vòng quay thuận chiều kim đồng hồ
|
Số vòng quay ngược chiều kim đồng hồ
|
|
3
|
1
|
2
|
|
5
|
2
|
3
|
|
8
|
3
|
5
|
|
13
|
5
|
8
|
Định luật này đúng cho
cả các lá tiếp theo (21), (34)… Trên các cột và các hàng đều là những con số
liên tiếp thuộc dãy Fibonacci!
Chỉ một cái cây bình
thường nhưng ta thấy tỉ lệ vàng xuất hiện dày đặc như thế nào.
Có nhà nghiên cứu ước
đoán rằng: 90% các loài cây có sự xếp lá tuân theo dãy số Fibonacci, theo cách
này hay cách khác.
Gọi cách xếp lá của
cây trong ví dụ trên là 3/8 (3 vòng đầu tiên, từ ngọn trở xuống đi qua 8
lá).
Điểm danh vài loài cây
quen thuộc khác tuân theo dãy Fibonacci :
|
1/2
|
cây gỗ đu, cây gỗ
đoan, cây chanh, cỏ
|
|
1/3
|
cây gỗ dẻ, cây phỉ,
cây mâm xôi, nhiều loài cỏ
|
|
2/5
|
cây sồi, cây anh
đào, cây táo, cây mận, cây cúc bạc
|
|
3/8
|
cây bạch dương, cây
hoa hồng, cây lê, cây liễu
|
|
5/13
|
cây liễu đuôi sóc,
cây hạnh nhân
|
(còn tiếp)
Vạn vật muôn hình muôn vẻ trong vũ trụ dường như không tuân theo
một trật tự phổ quát nào. Nhưng thực ra ẩn giấu đằng sau sự phong phú đa dạng
đó, vẫn tồn tại một nguyên tắc chung cho tất cả.
6.Ф và Súp lơ

Đây là ảnh một cây xúp lơ thông thường. Nếu trông kỹ, ta có thể thấy một điểm giữa, ở đó những bông hoa là nhỏ nhất. Nhìn kỹ thêm, ta lại thấy những bông hoa tí xíu này được sắp xếp trên những đường xoắn ốc xung quanh điểm trung tâm kể trên, theo cả 2 hướng. Dễ dàng đếm được 5 đường xoắn ngược và 8 đường thuận chiều kim đồng hồ.

Xúp lơ kiểu Roman, bề ngoài và mùi vị vừa giống cải xanh vừa giống xúp lơ. Mỗi phần tử nhỏ nổi lên và giống với toàn thể nhưng có kích thước bé hơn, khiến các vòng xoắn nổi lên rất rõ ràng. Có 13 vòng xoắn ngược và 21 vòng xoắn thuận chiều kim đồng hồ.
7. Ф và các mầm cây dưới kính hiển vi điện tử

Mầm cây vân sam Na Uy này tuân theo quy luật dãy Fibonacci, gồm một hệ 8 đường và một hệ 13 đường xoắn ốc
Luôn là Fibonacci và Ф ?
Vài loài hoa có 6 cánh hoa, và 6 không
thuộc dãy Fibonacci. Trong hình là hoa huệ tây, hoa thủy tiên và hoa loa kèn
đỏ. Nhưng nhìn kỹ thì chúng thực chất có 2 lớp cánh hoa trong – ngoài, mỗi lớp
gồm 3 cánh hoa, và 3 là số Fibonacci.



Hoa huệ tây, hoa thủy tiên, hoa loa kèn đỏ có 6 cánh hoa, chia làm 2 lớp mỗi lớp 3 cánh. Như vậy các loài này thực chất vẫn tuân theo dãy Fibonacci
Thực tế cũng có rất ít loài cây có số lượng
cánh hoa không phải là số Fibonacci, như loài hoa vân anh. Loài ớt ngọt đôi khi
không có 3 mà lại có 4 múi.


Hoa vân anh có 4 lá, còn ớt ngọt đôi khi có 4 múi chứ không phải 3. Như vậy trong tự nhiên cũng có ít loài thực vật không tuân theo dãy Fibonacci
Sau đây là một vài ví dụ khác:
Có một chuỗi số khác là dãy số Lucas, bắt
đầu bởi số 2 và 1, rồi sau đó giống như dãy số Fibonacci chúng có quy luật là
số sau bằng tổng 2 số liền trước.
Cuối cùng ta có dãy số Lucas như thế này:
2, 1, 3, 4, 7, 11, 18, 29, 47, 76, 123, 199, 322, 521, 843 …
Ta có: 3/1=3 4/3=1,333… 7/4=1,75
11/7=1,5714… 18/11=1,6363… 29/18=1,6111… 47/29=1,6206…

Đồ thị dãy số Lucas cũng tương tự như dãy Fibonacci. Điều đáng quan tâm là: Ln cũng tiến về Ф = 1,6180339… khi n tiến tới vô cùng
Bạn có thấy 4, 7, 11, 18, 29 đều
xuất hiện trong các hình thực vật ở trên?
Như vậy các ngoại lệ không thuộc dãy
Fibonacci thì lại thuộc một dãy số tương tự, điển hình là dãy Lucas. Rốt cuộc
chạy trời không khỏi nắng, đại đa số thực vật đều liên quan đến con số Ф
= 1,618 bí ẩn này không ít thì nhiều.
8. Ф và
sự phân chia tế bào
Dưới đây trình bày một trong vài kiểu phân chia tế bào sinh vật
trong thực tế.
Ban đầu chỉ có 1 tế bào, ta gọi đó là tế bào mẹ gốc A00.
Lần phân chia thứ 2: A00 sinh ra tế bào mẹ A01, sinh tế bào con
A10, và một tế bào con A-1 (không sinh sản). Giờ có 3 tế bào tất cả là
A01, A10, và A-1.
Lần phân chia thứ 3: A01 sinh ra A02, A10 sinh ra A11 và A20. A-1
vô sinh. Giờ có 4 tế bào A02, A10, A11, A20.
Lần phân chia thứ 4: Tế bào A02 không sinh sản mà trở thành A03.
Giờ có 7 tế bào là A03, A11, A20, A12, A20, A21,A30.
Lần phân chia thứ 5: A03 chết. A12 không sinh sản trở thành A13.
Giờ có 11 tế bào là A12, A20, A21, A30, A13, A21, A30, A22, A30, A31,
A40.
Lần phân chia thứ 6: Giờ có 18 tế bào tất cả: A13, A21,
A30, A22, A30, A31, A40, A22, A30, A31, A40, A23, A31, A40, A32, A40, A41, A50.
Lần phân chia thứ 7: Tất cả có 29 tế bào… vv…
Vậy số tế bào trong mỗi lần phân chia là 1, 3, 4, 7, 11, 18,
29, 47, 76, 123, 199, 322, 521, 843 … Đó chính là dãy Lucas, có liên hệ
chặt chẽ với tỉ lệ vàng Ф…….
Các nhà minh triết Tây phương cổ xưa thường giỏi về nhiều lĩnh
vực khoa học khác nhau. Có trí tuệ lại có đức, họ cảm nhận được sự vĩ đại của
Tạo Hóa, hiểu rằng vũ trụ không phải tự nhiên sinh ra mà là được tạo dựng bởi
uy lực vô cùng của Ngài.
Người Do Thái cổ quan niệm rằng Đấng tạo hóa (Elohim) tạo nên
Trời Đất từ khoảng trống tối tăm hỗn độn.
Đáng kinh ngạc là ở mảnh đất Đông phương xa xôi với văn hóa khác
biệt hoàn toàn, nhưng các minh triết cổ đại cũng đều đồng quan điểm như vậy.
Người Đông phương cổ xưa cho rằng vũ trụ là một thể sinh mệnh.
Đức Lão Tử nói: “Có một vật sinh ra từ lúc hỗn nguyên, có từ
trước khi Trời và Đất được sinh ra, yên lặng vô hình, độc lập mà không thay
đổi, vận hành tuần hoàn mà không ngừng nghỉ, có thể là mẹ của vạn vật trong vũ
trụ. Ta không biết tên là gì, bèn gọi là Đạo”.
Những người theo Phật giáo nguyên thủy cho
rằng muôn vật sinh ra từ Hỗn nguyên (Sunyata) và Đấng chí tôn (Dharmakaya) là
bất sinh bất tử vô hình.
Người thời nay hoàn toàn không biết người
xưa tư duy như thế nào, quan sát vạn vật vũ trụ ra sao, phát triển đến trình độ
cao siêu đến đâu. Không ai bảo đảm được là người thời nay thông minh và sáng
suốt hơn họ, vì vậy chúng ta không thể nào phớt lờ những hiểu biết của họ, đặc
biệt là về vũ trụ và nhân loại.
“Số Ф có mặt khắp
nơi trong tự nhiên, rõ ràng điều đó vượt quá sự trùng hợp, và vì
vậy người cổ xưa cho rằng con số Ф hẳn đã được tiền định bởi Đấng
Sáng Thế. Các nhà hóa học buổi ban đầu đã tuyên bố 1,618 là Tỉ Lệ
Thần Thánh”.
“… khía cạnh gây
sửng sốt thực sự của Ф lại nằm ở vai trò của nó với tư cách là
một nhân tố xây dựng mang tính nền tảng trong tự nhiên. Thực vật,
động vật và thậm chí cả con người đều có những thuộc tính về kích
thước gắn chặt với tỉ số giữa Phi và 1 tới một độ chính xác kỳ
bí”.
“… các đường trôn
ốc trên quả thông, cách sắp xếp lá trên những nhánh cây, các vạch
trên bụng côn trùng…, tất cả đều tuân theo Tỉ Lệ Thần Thánh đến mức
kinh ngạc”.
(Trích dẫn trong “Mật mã Da Vinci”)
9. Ф và đàn Ong mật
Có trên 30.000 loài
ong và phần lớn trong số chúng sống cuộc đời cô độc. Loài ong gần gũi với chúng
ta nhất là ong mật. Chúng sống thành đàn trong một tổ ong, và chúng có một cây
phả hệ rất khác thường. Cây phả hệ này tuân theo quy luật dãy số Fibonaci và tỉ
lệ vàng.
Một trong những điều
kỳ lạ nhất của ong mật là: không phải con ong nào cũng có cả cha và mẹ!
Trong đàn ong mật có
một con cái đặc biệt gọi là ong chúa, chuyên đẻ trứng. Các ong cái khác
không đẻ trứng mà chuyên môn làm việc gọi là ong thợ. Ong đực không làm
việc.
Ong mật đực sinh ra từ
trứng không thụ tinh của ong chúa, cho nên ong đực chỉ có mẹ mà không có
cha.
Ong cái sinh ra khi
ong chúa giao phối với một con ong mật đực và vì thế ong cái có cả cha lẫn mẹ.
Thường thì ong cái lớn lên trở thành ong thợ, nhưng có một số ít được nuôi nấng
bằng một dưỡng chất đặc biệt gọi là sữa ong chúa, khiến chúng phát triển trở
thành ong chúa và sẵn sàng ra ngoài để tìm chỗ xây dựng một đàn ong mới.
Vậy ong cái có cả cha
lẫn mẹ, trong khi ong đực chỉ có mẹ.
Xét cây phả hệ của một
ong mật đực:
Có 1 mẹ
Có 2 ông bà
Có 3 ông bà cụ
Có 5 ông bà kị
vv…
Như vậy chúng ta lại có 2 dãy Fibonaci trong cây phả hệ này:
|
Số lượng
|
Cha mẹ
|
Ông bà
|
Cụ
|
Kị
|
(Trên kị)
|
|
Ong mật đực
|
1
|
2
|
3
|
5
|
8
|
|
Ong mật cái
|
2
|
3
|
5
|
8
|
13
|
(The Fibonacci Sequence as it appears in Nature của
S.L.Basin trong Fibonacci Quarterly, tập 1, năm 1963, trang 53 – 57)
10. Ф và con bướm
Có rất nhiều loài côn trùng có kích thước cơ
thể trùng khớp với các con số thuộc dãy Fibonacci, liên quan chặt chẽ với Tỉ lệ
Vàng. Hoạt hình dưới là phân tích các kích thước của một con bướm.
11. Ф và cơ thể người
Nếu trong thực tế cơ thể bạn đúng theo các tỉ lệ sau đây thì chắc chắn trông rất cân đối và đẹp:
- Chiều cao / đỉnh đầu đến đầu ngón tay = Ф
- Đỉnh đầu tới đầu ngón tay / đỉnh đầu tới rốn (hoặc cùi chỏ) = Ф
- Đỉnh đầu tới rốn (hoặc cùi chỏ) / đỉnh đầu tới ngực = Ф
- Đỉnh đầu tới rốn (hoặc cùi chỏ) / chiều rộng đôi vai = Ф
- Đỉnh đầu tới rốn (hoặc cùi chỏ) / chiều dài cẳng tay = Ф
- Đỉnh đầu tới rốn (hoặc cùi chỏ) / chiều dài xương ống quyển = Ф
- Đỉnh đầu tới ngực / đỉnh đầu tới gốc sọ = Ф
- Đỉnh đầu tới ngực / chiều rộng của bụng = Ф
- Chiều dài của cẳng tay / chiều dài bàn tay = Ф
- Vai đến các đầu ngón tay / khuỷu tay đến các đầu ngón tay = Ф
- Hông đến mặt đất / đầu gối đến mặt đất = Ф
- Gọi độ dài từ rốn lên đến đỉnh đầu là x, độ dài từ rốn xuống đến chân là y. Độ dài 1 dang tay gọi là a. Nếu x/y = a/(x+y) = 1,618 = Ф, thì đó là thân hình của các siêu người mẫu. Điều này hoàn toàn là sự thật vì các hãng thời trang lớn đều tuân thủ nghiêm ngặt quy định này khi tuyển người mẫu.
12. Ф và bàn tay người
13. Ф và ADN
Phân tử ADN cũng liên quan đến Ф. Mỗi chu kỳ xoắn kép của nó dài 34 Angstrom rộng 21 Angstrom. Và 21 và 34 là 2 số liên tiếp thuộc dãy Fibonacci.
14. Ф và Sao Thổ
Sao Thổ nổi tiếng với vành đai tuyệt đẹp của nó. Ít ai ngờ rằng các kích thước của nó như đường kính, khoảng cách vành đai, vv… có nhiều liên quan đến tỉ lệ vàng Ф.
15. Ф, Trái Đất và Mặt
Trăng
|
Bán kính Trái Đất
|
6.378,10
|
|
Bán kính Mặt Trăng
|
1.735,97
|
|
Tổng cộng = cạnh góc
vuông lớn của tam giác trên hình
|
8.114,07
|
|
Cạnh huyền
|
10.320,77
|
|
Tỉ số Cạnh
huyền/cạnh góc vuông nhỏ
|
Ф = 1,618
|
|
Nếu quy ước bán kính
trái Đất là 1 thì ta có số đo như hình vẽ trên
|
|
16. Ф và các thiên hà
Hình chữ nhật vàng là hình chữ nhật có tỉ số chiều dài : chiều rộng = Ф. Đường xoắn ốc Fibonacci, nằm bên trong hình chữ nhật vàng.
Trong vũ trụ có rất nhiều thiên hà xoắn ốc đúng theo đường xoắn ốc Fibonacci. Ví dụ dải thiên hà NGC 5194 cách dải ngân hà của chúng ta 31 triệu năm ánh sáng.
17. Ф trong thế giới
lượng tử
“Tỷ lệ vàng”, xấp xỉ
với 1,618, có thể được tìm thấy trong nhiều khía cạnh của đời sống chúng ta,
bao gồm sinh học, kiến trúc và nghệ thuật.
Nhưng chỉ mới đây,
người ta mới phát hiện ra rằng tỷ lệ đặc biệt này cũng được phản ánh trong cấp
độ na-nô, nhờ các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Oxford của Anh Quốc, Đại học
Bristol, Phòng thí nghiệm Rutherford Appleton, và Viện Vật liệu và Năng lượng
Helmholtz-Zentrum Berlin của Đức (HZB).
Các nhà khoa học đã bắn các hạt neutron vào
các nguyên tử cobalt niobate (CoNb2O6) và phát hiện ra các nút cộng hưởng với
tỷ lệ vàng (Tennant/HZB)
Nghiên cứu của họ,
được công bố trong tạp chí Khoa học ngày 8 tháng 1, đã xem xét các chuỗi nguyên
tử cobalt niobate mang từ tính liên kết với nhau với độ rộng chỉ có một nguyên
tử để khảo sát Nguyên lý bất định của Heisenberg. Họ đặt một từ trường tại góc
phải của một mô-men nội tại (spin) thẳng hàng của các chuỗi từ tính để có thêm
sự bất định lượng tử. Tùy theo các biến đối của hướng từ trường, những nam châm
nhỏ này bắt đầu cộng hưởng từ.
Các hạt neutron được
bắn vào các nguyên tử cobalt niobate để phát hiện các nút cộng hưởng. “Chúng
tôi đã tìm thấy một chuỗi (tỷ lệ) các nút cộng hưởng: Hai nút đầu tiên cho thấy
một mối quan hệ hoàn hảo với nhau. Các tần số của chúng (pitch) nằm theo tỷ lệ
1,618… là tỷ lệ vàng nổi tiếng trong nghệ thuật và kiến trúc”, nhà nghiên cứu
trưởng, Tiến sĩ Radu Coldea tại Đại học Oxford nói trong một thông cáo báo chí.
“Nó phản ánh một đặc tính tuyệt đẹp của hệ thống lượng tử – tính đối xứng ẩn.”
Tiến sĩ Alan Tennant, người dẫn đầu nhóm
nghiên cứu tại Berlin nói: “Những khám phá như thế này đang dẫn các nhà vật lý
tới sự suy luận rằng thế giới lượng tử, cấp nguyên tử có thể có trật tự cơ bản
của riêng nó. Những điều ngạc nhiên tương tự có thể đang chờ đợi các nhà nghiên
cứu ở các vật liệu khác trong trạng thái lượng tử tới hạn.”
“Hai phát hiện vĩ đại
nhất của hình học, một là định lý Pythagore, và hai là tỷ lệ vàng – một thứ có
thể so sánh là quý như vàng, còn thứ kia có giá trị như một viên ngọc quý”
Kepler
18. Ф và Bí mật của vẻ
đẹp hài hòa
Tỷ lệ vàng khi được áp
dụng trong nghệ thuật đều mang đến cho con người 1 cảm giác đẹp hài hòa và dễ
chịu một cách khó giải thích. Do đó, nó được giảng trong các môn học như nghệ
thuật, kiến trúc, mỹ thuật, trang trí, hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, vv… như
là một quy luật, tương hợp kỳ lạ với óc thẩm mỹ tự nhiên của con người.
Apple vận dụng tỷ lệ
vàng trong các thiết kế của mình, ngay cả trang Twitter cũng vận dụng nó, các
mẫu logo của các công ty hàng đầu thế giới cũng áp dụng tỉ lệ vàng. Tờ báo mà
bạn đang đọc, màn hình vi tính, thẻ tín dụng, toà nhà cao ốc, cánh hoa, lá cây
– tất cả mọi thứ đều được tạo lập dựa trên một nguyên tắc, một tỷ lệ, một giá
trị cân đối. Dường như Tạo hóa đang tiết lộ với chúng ta về bí mật của bản
thiết kế mà Ngài đưa vào trong mỗi phần tử của vũ trụ.
Qua nhiều thế kỷ, cái
đẹp tuyệt đối của nghệ thuật và óc thẩm mỹ của loài người chưa bao giờ chệch
quá xa khỏi tỷ lệ kỳ bí này.
Vẻ đẹp của cơ thể con
người cũng có liên quan tới số Ф. Thương của phép chia chiều cao từ đầu tới
chân với khoảng cách từ rốn tới chân ≈ 1.618, thể hiện sự hài hoà cân đối của
cơ thể. Chúng ta cũng có thể tìm ra kết quả tương tự trong tỷ lệ của chiều dài
cái đầu với khoảng cách từ mắt tới cằm; hay tỷ lệ của khoảng cách từ mũi tới
cằm trên khoảng cách từ môi tới cằm. Những tỷ lệ của gương mặt càng tiến gần
tới tỷ lệ này thì gương mặt càng hài hoà cân đối. Thậm chí sở thích của chúng
ta dường như cũng đã được định sẵn.
Trong một cuộc nghiên
cứu nổi tiếng do Gustav Fechner tiến hành năm 1876, trong đó người ta được yêu
cầu chọn một hình chữ nhật ưng ý nhất trong số một bộ các hình chữ nhật có kích
thước từ một vuông đến gấp đôi. Kết quả là kích thước hình chữ nhật càng gần
với hình chữ nhật vàng thì số người lựa chọn càng tăng lên. Ông còn nghiên cứu
xa thêm bằng cách đo đạc tỉ lệ của các cửa sổ và cửa ra vào của các ngôi nhà,
và phát hiện phần lớn chúng xấp xỉ tỉ lệ vàng. Điều đó cho thấy óc thẩm mỹ đã
đưa nhân loại đến gần tỉ lệ vàng mà bản thân họ cũng không biết.

Tỉ lệ các cạnh của hình chữ nhật càng gần Ф thì càng bắt mắt.
Hình chữ nhật có chiều dài / chiều rộng = Ф được gọi là hình chữ nhật vàng
Cả loài người vẫn
không thể giải thích được tại sao vô số những thực thể hữu cơ lẫn vô cơ tìm
thấy trong tự nhiên lặp đi lặp lại tỷ lệ đặc biệt trên. Nguyên nhân đằng sau
con số chi phối sự cân đối hài hoà và vẻ đẹp của toàn thể vũ trụ và nhân loại
ấy là gì? Câu hỏi này đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của rất nhiều người trong
hàng thiên niên kỷ qua, nhưng cho đến ngày nay nó vẫn tiếp tục là một điều bí
ẩn.
19. Ф và các công trình
kiến trúc
Tỉ lệ vàng đã được áp
dụng trong các kích thước kiến trúc của các công trình nổi tiếng như
đền Parthenon Hi Lạp, các kim tự tháp Giza và thậm chí của cả tòa
nhà trụ sở Liên hợp quốc tại New York. Một số kiến trúc Việt Nam cũng thể
hiện tỉ lệ này.
“Thước tầm” thời xưa
của Việt Nam với những số đo xuất phát từ các kích thước của con người cũng
tuân thủ quy luật của Tỷ Lệ Vàng. Tỉ lệ giữa “khoảng nằm” và “khoảng đứng” luôn
là một số ≈ Ф, mặc dù con số ấy có sai khác đôi chút giữa các phường thợ khác
nhau.

Tháp CN tại Toronto, Canada là tòa tháp cao nhất thế giới, cũng được thiết kế theo tỉ lệ vàng. Tỉ số giữa tổng chiều cao tháp so với độ cao của đài quan sát là 553,33m : 342m = 1,618 = Ф
Một công cụ hay được
dùng trong nghiên cứu và ứng dụng Tỉ lệ vàng là chiếc compa Tỉ lệ vàng.
Một số kiến trúc khác
có thiết kế phù hợp với tỉ lệ vàng:
20. Ф và Quy tắc phần ba trong
nhiếp ảnh
Hằng số Ф chi phối hầu
như mọi thiết kế của tự nhiên nói chung và các sinh thể nói riêng, tạo ra vẻ đẹp hài hòa. Tỉ
lệ vàng là một khuôn mẫu đã đi vào sách vở và vẫn được giảng dạy cho đến ngày
nay, do đó việc người ta áp dụng nó trong nhiếp ảnh là một điều dễ hiểu.
Trong nhiếp ảnh, người
ta thường nói đến quy tắc phần ba: 1+0,618+1.
Các nhiếp ảnh gia giàu
kinh nghiệm đều biết Tỉ lệ vàng trong việc sắp xếp bố cục, và sử dụng chúng
nhuần nhuyễn một cách gần như tự động, không phải suy nghĩ. Nhưng trước khi đạt
được đến trình độ ấy thì họ thường phải học hỏi và luyện tập nhiều. Dưới đây là
một số bức ảnh chụp có sử dụng quy tắc này.

Khi càng đặt nhiều đường “Phi” trùng với các đường nét chính của chủ thể, thì tính hấp dẫn càng cao hơn

Như với thí dụ trên, con mắt của con ngựa được đặt ngay một “giao điểm” của “Phi”.

Một ví dụ khác, với hình trên, cách bố trí điểm “Phi” được đặt ở ngay mắt trái của chủ thể, để tạo chủ điểm hấp dẫn.

Đường chân trời được đặt ngay tại đường “Phi” trên, ngôi nhà thờ, và con đường tạo mối liên kết với nhau
Để luyện tập cách sử
dụng tỉ lệ vàng trong nhiếp ảnh, độc giả có thể truy cập và xem tại : đây :
http://photoinf.com
21. Lịch sử bí ẩn của Tỉ lệ
Thần thánh
Franziskanermönch Luca
Pacioli di Borgo San Sepolcro (1445 – 1514) – một giáo viên toán ở Perugia, đã
gọi tỉ lệ này là Tỉ lệ Thần thánh (“De Divia Proportione”) và cho ra đời 3 cuốn
sách vào năm 1509. Trong cuốn đầu tiên ông chỉ nêu các vấn đề toán học. Trong
cuốn thứ hai ông nêu ra sự liên quan giữa bản viết của một người La Mã là
Vitruvius từ thế kỉ 1 trước công nguyên với Kiến trúc, trong đó còn nói về việc
lấy tỉ lệ người như là một khuôn mẫu.
Adolf Zeising (1854)
đưa ra mối liên quan giữa tỉ lệ vàng và Nghệ thuật. Ông tin chắc rằng mọi vật
thể sống đều tuân theo một qui luật tự nhiên về thẩm mỹ, mà cơ bản ở đây là
tuân theo Tỉ lệ vàng. Ông đã tìm kiếm và nhận thấy rằng tỉ lệ vàng có ở khắp
mọi nơi. Nghiên cứu của ông đã gây tiếng vang lớn trong dư luận.
Martin Ohm (em trai
của George Simon Ohm với định luật Ohm nổi tiếng) từng đưa Tỉ lệ Vàng vào giảng
dạy trong một giáo trình toán. Cụm từ sectio aurea (tỉ lệ Thần thánh) cũng được
đưa ra trong thời kì này.
Vào những năm đầu thế
kỉ 20 xuất hiện một bài viết về quan sát tỉ lệ vàng của một người Rumani tên là
Matila Costiescu Ghyka. Ông đã kết hợp giữa lý thuyết của Pacioli và nghiên cứu
về thẩm mỹ của Zeising và kết luận Tỉ lệ vàng như là một bí ẩn của vũ trụ, xuất
hiện khắp mọi nơi.
Trước đây người ta vẫn
cho rằng một người La Mã là Vitruvius sống cách đây gần 2.100 năm đã phát minh
ra tỉ lệ vàng. Tuy nhiên Tỉ lệ Vàng đã được tìm thấy trong các kiến trúc cổ xưa
hơn nhiều, ví dụ Kim tự tháp Lớn của Ai Cập.
Cho đến ngày nay nhân loại vẫn không biết kiến
thức về Tỷ lệ Vàng có từ bao giờ.


































































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét