Những
vật liệu xây dựng mới đã xuất hiện, thực hiện những vai trò và chức năng mới,
trong những không gian mới.
Việc
phát triển công nghệ trong kết cấu xây dựng bằng vật liệu và
lý thuyết kết cấu, mà trong đó kết cấu bêtông cốt thép và kết cấu thép đã giải
phóng các bức tường nặng nề, cùng những yêu cầu công nghiệp hoá xây dựng, đã là
điều kiện cho các loại vật liệu bao che cùng phát triển, làm đa dạng cho bộ mặt
của công trình kiến trúc.
Kính
lên ngôi
Nếu
như trước kia các bức tường (xây bằng gạch, đá) ở công trình kiến trúc vừa đóng
vai trò bao che cho không gian sử dụng bên trong, vừa phải làm nhiệm vụ chịu
lực; thì với kết cấu khung (bêtông cốt thép, thép), các bức tường chỉ còn mang
ý nghĩa bao che, ngăn chia. Và kính đã trở thành một vật liệu mới thay thế với
nhiều ưu điểm: giảm tải trọng, giảm diện tích chiếm mặt sàn, chịu được các điều
kiện thời tiết, chống thấm tuyệt đối ở bề mặt, cho ánh sáng xuyên qua… Những kiến trúc hiện đại,
các toà cao ốc bọc kính là hình ảnh quen thuộc ở các đô thị. Ngoài việc là vật
liệu sử dụng cho kết cấu bao che bên ngoài, kính còn được dùng làm vách ngăn
bên trong thay tường truyền thống, đặc biệt trong các không gian văn phòng làm việc, không gian công cộng như bảo
tàng, trung tâm thương mại, nhà ga hàng không, nhà hàng… Kính đóng vai trò phân
định không gian chức năng, định tuyến giao thông nhưng không hạn chế tầm nhìn,
không cản ánh sáng. Sử dụng kính ngăn chia hợp lý sẽ làm rộng không gian về mặt
thị giác và tạo nên những hiệu quả ánh sáng hữu dụng và thẩm mỹ.
Kính
cũng được sử dụng phổ biến cho một bộ phận kiến trúc bao che khác là mái. Mái
kính là giải pháp kiến trúc – kỹ thuật để khai thác ánh sáng theo
phương thẳng đứng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những công trình có mặt
bằng lớn, không gian lớn – mà ánh sáng từ các diện tường bao bên ngoài vào phía
trong (phía giữa) không đủ, do bị cản hoặc quá xa. Mái kính cũng là một yếu tố
tạo nên hiệu quả kiến trúc cho cả ngoại thất và nội thất công trình.
Nhược điểm của kính
Tuy
vậy, không có nghĩa là kính không có nhược điểm. Trước hết kính tạo nên hiệu
ứng lồng kính, làm tăng nhiệt ở môi trường bên trong. Hệ quả của việc này là
phải dùng máy lạnh, gây tiêu tốn năng lượng và ảnh hưởng tiêu cực tới môi
trường. Việc thi công, lắp đặt và sử dụng, vận hành với vật liệu kính cũng gây
ra nhiều rủi ro (vỡ) với chính công trình và người sử dụng. Bên cạnh đó, việc
điều chỉnh thiết kế, sửa chữa, cải tạo hay phá dỡ cũng là một vấn đề không đơn
giản với loại vật liệu này. Bởi các loại kính được sử dụng làm kết cấu bao che,
ngăn chia đều là kính tôi (kính tempered) không thể tái sử dụng với kích thước,
quy cách khác được (không thể gia công cơ học như cắt, khoan, mài). Và việc tái
chế như một loại phế thải đòi hỏi chi phí cao, việc tiêu huỷ càng khó. Kính xây
dựng hiện nay cũng là một vấn nạn với môi trường.

Đa
dạng vật liệu mái
Mái
là bộ phận bao che phía trên của công trình kiến trúc. Mái có ý nghĩa quan
trọng cho việc bảo vệ công trình cũng như yếu tố thẩm mỹ công trình. Bên cạnh
các vật liệu và kết cấu mái truyền thống như mái ngói, mái bêtông; hiện nay có
rất nhiều loại vật liệu bao che mái – các loại tấm lợp.
Mái bê tông
Mái
bê tông có nhược điểm là tải trọng lớn, dễ nứt gây thấm dột, mái ngói có nhược
điểm là thi công lâu, không thực hiện trên các công trình có diện mái lớn, độ
dốc thấp, không phù hợp với quy trình thi công công nghiệp. Các loại tấm lợp đã
khắc phục được những nhược điểm này, đáp ứng được nhu cầu của thực tế xây dựng.
Tấm lợp
Hiện
vẫn tồn tại loại tấm lợp rẻ tiền là fibrô-ximăng, được sử dụng cho những công
trình tạm. Tuy nhiên mái tôn gần như chiếm ưu thế tuyệt đối cho thể loại này.
Mái tôn có ưu điểm là nhẹ, bền, bị nối ít, thi công nhanh gọn và nhược điểm là
cách nhiệt, cách âm kém. Ưu điểm của mái tôn là nhẹ cũng là nhược điểm bởi dễ
bị gió tốc từ dưới, có thể phá liên kết với hệ khung kết cấu, bay ra ngoài rất
nguy hiểm. Tấm lợp tôn cũng có nhiều loại với nhiều hình thức: tôn mạ kẽm, tôn
mạ màu, tôn sơn tĩnh điện, tôn chống nóng (có tích hợp một hệ thống lớp cách
nhiệt ở mặt dưới)… tôn sóng tròn, tôn sóng vuông… Mái tôn hiện là vật liệu lợp
phổ biến và thông dụng nhất trong cả xây dựng dân dụng và công nghiệp.
Ở
mức độ cao hơn, là các tấm lợp mái được nghiên cứu và sản xuất đáp ứng được các
yêu cầu thẩm mỹ cũng như kỹ thuật, mà vẫn có những ưu điểm của loại vật liệu
công nghiệp. Đó là các loại tấm lợp có khả năng cách âm, cách nhiệt, bền trong
điều kiện tự nhiên, chịu được tác động hoá học, cơ học. Các dạng tấm lợp này có
thể có sóng như tôn, hoặc mô phỏng hình thức mái ngói, tuy nhiên màu sắc rất đa
dạng. Những tấm lợp có thể được sản xuất theo khổ lớn, hay theo băng dài – khi
lợp chồng lên nhau sẽ tạo đường gân như từng lớp ngói. Vật liệu của các loại
tấm lợp có nhiều nguồn gốc. Tấm lợp AHI (sản xuất từ Malaysia bởi công nghệ New
Zealand) được sản xuất từ hợp kim nhôm kẽm, bề mặt phủ một lớp hạt đá tự nhiên
có màu; tấm lợp Onduline (công nghệ Pháp) còn được gọi là tấm lợp sinh thái có
nguồn gốc hữu cơ, được chế tạo sợi hữu cơ tổng hợp và nhựa Bitum. Tấm lợp
polycarbonate, vẫn được biết đến với tên gọi tấm nhựa thông minh lại là một lựa
chọn thay thế cho kính với những đặc điểm tương đồng (phẳng, nhẵn, trong) và có
nhiều ưu điểm riêng như nhẹ, an toàn, ít hấp thụ nhiệt, có khả năng uốn cong cơ
học trong điều kiện bình thường và giá thành rẻ hơn nhiều so với kính. Nhược
điểm của tấm lợp polycarbonate là gây tiếng ồn lớn khi mưa và rất khó vệ sinh
khi chất bẩn chui vào trong các lỗ rỗng của tấm, gây mất thẩm mỹ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét